Tìm kiếm
Liên kết website
Hỏi - Đáp
Trang chủ / Chia sẻ kinh nghiệm / Địa phương

Nghiên cứu kinh nghiệm về cổ phần hoá doanh nghiệp tại Kiên Giang, An Giang
Ngày đăng: 31/05/2014

1. Giới thiệu:

Trong thời gian từ ngày 03/4/2014 đến ngày 08/04/2014, Ban chuyển đổi doanh nghiệp Công ty đã tổ chức chuyến nghiên cứu về cổ phần hoá tại An Giang và Kiên Giang; tham gia đoàn công tác có 03 cán bộ trong Ban chuyển đổi doanh nghiệp của Công ty và 04 cán bộ là thành viên Ban chỉ đạo Cổ phần hoá doanh nghiệp của tỉnh: đại diện các Sở Tài chính, Nội vụ, Kế hoạch - Đầu tư và Xây dựng.


  1. Được sự quan tâm của lãnh đạo Công ty Cổ phần hoá Điện- Nước An Giang và Công ty TNHH MTV cấp thoát nước Kiên Giang đoàn công tác đã trao đổi chia sẻ kinh nghiệm và nghiên cứu thực tế về hoạt động của các doanh nghiệp. Những bài học kinh nghiệm trong quá trình chuyển đổi doanh nghiệp và về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp nước sạch được các thành viên đoàn công tác đánh giá cao.`

2. Những vấn đề cần quan tâm chia sẻ:

2.1 Hiệu quả hoạt động của Công ty Cổ phần

  1. Tại An Giang:

Công ty cổ phần Điện Nước An Giang là một trong số ít các doanh nghiệp ngành nước sớm chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần. Từ năm 2010, Công ty đã xây dựng kế hoạch và lộ trình chuyển đổi doanh nghiệp; đến 2012 Công ty chuyển sang hoạt động theo mô hình Công ty Cổ phần.

Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh với nhiều lĩnh vực. Trong đó sản phẩm chính là cung cấp điện - nước sạch cho người dân các khu vực thành thị lẫn nông thôn trên địa bàn tỉnh. Công ty hiện đang quản lý 161 hệ thống cấp nước có công suất từ 150m3/ngày đến 34.000 m3/ngày bao gồm11 thành phố, thị trấn, thị xã; hầu hết các xã phường của tỉnh An Giang đều đã có hệ thống cấp nước sạch. Tổng công suất toàn Công ty là 132.000 m3/ngày; sản lượng nước sản xuất trên 58,5 triệu m3 (107,92% kế hoạch ); sản lượng nước tiêu thụ trên 43,2 triệu m3 (106,36% kế hoạch). Tổng số khách hàng nước 314.391 hộ; tổng doanh thu đạt trên 872 tỷ đồng (107,70% kế hoạch); lợi nhuận trước thuế trên 125 tỷ đồng ( 116,71% kế hoạch). Công ty đang tập trung phát triển các đường ống, trạm cấp nước từ nguồn vốn vay, để phấn đấu phát triển 20.000 khách hàng/năm được sử dụng nước sạch. Công ty đang thực hiện việc lắp đặt đồng hồ nước không thu tiền (trong phạm vi 05 mét tính từ hệ thống ống cung cấp nước).

Các trạm cấp nước nhỏ do Trung tâm nước sạch vệ sinh môi trường đầu tư xây dựng trước đây giao cho các xã quản lý, do không có nghiệp vụ, thiếu am hiểu kỹ thuật nên các trạm cấp nước hư hỏng, xuống cấp nhanh, chất lượng nước cung cấp không đảm bảo tiêu chuẩn, giá bán mỗi nơi mỗi khác và không hiệu quả... Từ năm 2003 UBND Tỉnh An Giang giao cho Công ty quản lý sử dụng tất cả các trạm cấp nước do Trung tâm  nước sạch vệ sinh môi trường Tỉnh đầu tư. Công ty đã cải tạo sửa chữa, bố trí công nhân lành nghề quản lý vận hành. Đến nay, hầu hết các trạm cấp nước nông thôn đã hoạt động tốt, có hiệu quả

Tại các Xí nghiệp có bộ máy tổ chức gồm có Ban Giám đốc Xí nghiệp và các Phòng kế toán – kinh doanh; phòng kỹ thuật điện - nước; và các tổ quản lý điện nước khu vực. Điều hành các tổ có tổ trưởng và tổ phó. Các chức danh này đều do Công ty bổ nhiệm theo tiêu chí có bằng chuyên môn, có năng lực đạo đức tốt. Quản lý trực tiếp các trạm cấp nước xã do tổ quản lý điện nước khu vực, tổ này tùy theo số hộ sử dụng điện - nước, tuỳ theo địa hình mà có thể quản lý từ 2 đến 4 xã. Riêng các trạm cấp nước có công nhân phụ trách từ 2 đến 3 người. Chịu sự điều hành của Tổ khu vực.

  1. Công ty có 10 Xí nghiệp điện nước huyện, thị; 01 Xí nghiệp cấp nước TP.Long Xuyên ; 01 Xí nghiệp xây lắp điện nước, 08 phòng chuyên môn và các ban quản lý. Với tổng số lao động toàn Công ty là: 1193 người. Trong đó: đại học và cao đẳng: 182 người; trung cấp: 447 người; sơ cấp: 378 người. Lao động phục vụ công tác chuyên ngành điện:   600 người; Lao động phục vụ công tác chuyên ngành nước:  593 người

Nước sạch của Công ty CP Điện Nước An Giang được sản xuất và quản lý chất lượng theo hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001-2008. Sản phẩm nước sạch của Công ty luôn đảm bảo đầy đủ theo các tiêu chuẩn quy định. Thường xuyên tự kiểm tra định kỳ, đột xuất chất lượng nước sạch, thường xuyên kết hợp trung tâm y tế dự phòng Tỉnh kiểm tra kiểm nghiệm chất lượng nước sạch.

  1. Tại Kiên Giang:

Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước Kiên Giang là một doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước. Tiền thân của Công ty Cấp nước Kiên giang là hệ thống cấp nước Rạch Giá được xây dựng từ năm 1963, có công suất 4.800m3/ngày. Hiện nay tổng công suất của hệ thống cấp nước do Công ty quản lý đã lên đến 60.000 m3/ngày và với gần 60.000 khách hàng. Theo kế hoạch và lộ trình được duyệt, Công ty sẽ chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần vào cuối năm 2014

2.2 Triển khai có hiệu quả các dự án vay vốn đầu tư:

Tại An Giang: Các hệ thống cấp nước trung tâm được đầu tư xây dựng từ các nguồn vốn: vay, vốn JBIC, NORAD. Các trạm cấp nước nhỏ được đầu tư từ nguồn vốn vay, vốn ngân sách, vốn chương trình nước sạch nông thôn. Nhờ sử dụng các nguồn vốn vay có hiệu qảu nên Công ty chủ động trong việc phát triển mạng lưới cấp nước phục vụ nhân dân cả khu vực đô thị và khu vực nông thôn.

Tại Kiên Giang: Công ty TNHH MTV cấp – thoát nước Kiên Giang (KIWACO) là đơn vị hiện đang triển khai dự án vốn vay WB: dự án cấp nước trị giá 296,73 tỉ đồng (tương đương 14,35 triệu USD). Trong đó vốn vay từ Ngân hàng Thế giới (WB) 220,19 tỷ chiếm 74% (tương đương 10,65 triệu USD), vốn đối ứng phía KIWACO là 76,54 tỷ đồng (chiếm 26%). Thời gian thực hiện từ nay đến năm 2016. Dự án nêu trên gồm ba hợp phần lớn, trong đó hợp phần một – mở rộng hệ thống cấp nước là hợp phần quan trọng nhất. Quy mô mở rộng hệ thống cấp nước gồm có cải tạo công trình thu nước thô (xây dựng tuyến ống DN-560 dài 3,2km dẫn nước về hồ chứa 3.000m3 và nâng cấp cải tạo trạm bơm cấp I); cải tạo và xây dựng mới nâng công suất Nhà máy từ 5.000m3/ngày đêm lên 16.500m3/ngày đêm. Lắp đặt hệ thống SCADA để kiểm soát và theo dõi hoạt động của hệ thống cấp nước; Lắp đặt mới 16,5 km ống chuyển tải D350 – D400, đài chứa nước có V = 500 m3, trạm tăng áp, mở rộng mạng lưới cấp nước bao gồm lắp đặt 7,2km đường ống DN200 và 42km đường ống các loại từ D200 đến D63; Lắp đặt ống dịch vụ và đấu nối cấp nước cho 5.000 khách hàng.

2.3 Khó khăn và thách thức trong xác định giá trị doanh nghiệp

- Tài sản của các công ty chủ yếu là hệ thống mạng lưới cấp nước, không đồng bộ, nhiều khu vực do chưa có điều kiện thay thế nên phải sử dụng nếu định giá rất khó cho doanh nghiệp; hồ sơ lưu trữ của nhiều hạng mục công trình tuyến ống trải qua nhiều thời kỳ thiếu, không đủ làm cho thời gian định giá phải kéo dài.

- Ở đây vấn đề đặt ra là tài sản cố định vô hình đã khấu hao hết và thu hồi đủ vốn mà công ty cổ phần vẫn tiếp tục sử dụng nhưng lại không được đánh giá lại để đưa vào giá trị doanh nghiệp. Do đó xu hướng khấu hao nhanh, thời gian khấu hao rút ngắn nên đến cuối kỳ khấu hao giá trị còn lại trên sổ sách kế toán rất thấp, nhưng giá trị thực tế còn cao.

- Việc định giá đất là một vấn đề đáng quan tâm: nhiều khu vực nếu dựa theo quy định hiện hành có tính đến lợi thế của vị trí đất thì các Công ty sẽ bị ảnh hưởng bởi sản phẩm của công ty không được hưởng lợi về lợi thế đó.

- Sự phối kết hợp chặt chẽ giữa Ban chỉ đạo doanh nghiệp tỉnh với Ban chuyển đổi doanh nghiệp Công ty và Công ty tư vấn trong thực hiện phương án cổ phần hoá để giải quyết kịp thời các khó khăn vướng mắc và phát sinh trong quá trình thực hiện CPH.

- Việc kêu gọi các nhà đầu tư chiến lược tham gia cổ phần hoá là một khó khăn bởi lợi nhuận của các Công ty nước chưa hấp dẫn được nhà đầu tư.

2.4 Công tác tuyên truyền phổ biến cho người lao động về Cổ phần hoá.

Phải có nhiều hình thức, phương pháp tuyên truyền vận động cán bộ, CNV thực hiện chủ trương của Đảng, nhà nước về Cổ phần hoá; trong đó vấn đề người lao động quan tâm nhất là: quyền và lợi ích khi Công ty tiến hành cổ phần hoá, như việc được mua cổ phần của Công ty với giá ưu đãi, được tiếp tục tham gia và hưởng quyền lợi về bảo hiểm xã hội, và được cấp sổ bảo hiểm xã hội nếu là lao động mới. Người lao động được đào tạo lại nghề nếu thấy cần thiết để tiếp tục làm việc ở Công ty cổ phần. Người lao động nghèo được hưởng các ưu đãi khi mua cổ phần như mua chịu, mua với giá ưu đãi v.v…

Chuyến nghiên cứu đã đạt được kết quả mong muốn, việc chia sẻ kinh nghiệm đã giúp cho Ban chuyển đổi doanh nghiệp và việc thực hiện Cổ phần hoá của Công ty.

Nơi nhận:

-       Trang TTĐT Công ty;

-       Lưu VT.

TRƯỞNG ĐOÀN

(Đã ký)

Chủ tịch Công ty

Đinh Ngọc Vân