Tìm kiếm
Liên kết website
Hỏi - Đáp
Trang chủ / Chia sẻ kinh nghiệm / Toàn quốc

Nghiên cứu học tập kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động của Công ty TNHH MTV Kinh doanh nước sạch
Ngày đăng: 02/04/2014

Trong thời gian từ ngày 10-12/6/2013, Đoàn cán bộ Công ty TNHH MTV Kinh doanh nước sạch Ninh Bình đã tiến hành nghiên cứu thực tế tại Bắc Giang và Lạng Sơn về mô hình tổ chức và quản lý đối với Công ty TNHH MTV do nhà nước làm chủ sở hữu.


BÁO CÁO

Nghiên cứu học tập kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động
của Công ty TNHH MTV Kinh doanh nước sạch

 

1. Giới thiệu:
Trong thời gian từ ngày 10-12/6/2013, Đoàn cán bộ Công ty TNHH MTV Kinh doanh nước sạch Ninh Bình đã tiến hành nghiên cứu thực tế tại Bắc Giang và Lạng Sơn về mô hình tổ chức và quản lý đối với Công ty TNHH MTV do nhà nước làm chủ sở hữu. Với sự quan tâm giúp đỡ của Công ty TNHH Cấp thoát nước Bắc Giang, Công ty Cổ phần cấp thoát nước Lạng Sơn, chuyến nghiên cứu đã tiến hành theo đúng kế hoạch và đạt kết quả mong muốn. Tham gia đoàn công tác của Công ty gồm: Chủ tịch, Trưởng ban Thanh tra, Đội trưởng đội xây lắp, Giám đốc Nhà máy nước Yên Mô, PGĐ phụ trách mạng Nhà máy nước Ninh Bình, Phó trưởng phòng TCHC kiêm lái xe.
`
2. Những vấn đề cần quan tâm chia sẻ:
2.1Phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các bộ phận:
- Tại Bắc Giang, Lạng Sơn: Công ty tổ chức theo mô hình quản lý chức năng, có phân công, phân nhiệm khá rõ ràng; có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa các bộ phận; vì vậy, hạn chế đựơc sự chồng chéo trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
- Tại Lạng Sơn: Xí nghiệp xây lắp là đơn vị hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng. Nhờ có tính tự chủ cao Xí nghiệp không chỉ đảm bảo việc làm, thu nhập mà còn có tích luỹ để đầu tư tái sản xuất. Tại Bắc Giang, các đội xây lắp thực hiện theo cơ chế khoán. Hạch toán đốc lập.
2.2Mô hình gắn quản lý mạng với chính quyền cơ sở:
- Tại Bắc Giang: các tổ quản lý mạng được tổ chức theo địa bàn phường, (văn phòng làm việc cho tổ quản lý mạng được xây dựng trong khuôn viên của trụ sở UBND phường) với biên chế phụ thuộc vào số điểm đấu nối trên địa bàn; về tổ chức, mỗi tổ có tổ trưởng, tổ phó và từ 8-12 nhân viên; việc thu tiền nước được thực hiện tại một điểm tập trung kết hợp cùng ngày thu tiền điện. Các nhân viên trong tổ có trách nhiệm từ ghi số, thu tiền đến xử lý rò rỷ; theo dõi, hướng dẫn người dân thi công công trình để không ảnh hưởng đến tuyến ống. Mỗi tổ đều có 02 nhân viên có thể kiểm tra sửa chữa đồng hồ khắc phục, sửa chữa các điểm rò rỷ. Các tuyến ống D<100, khi phát hiện các tổ phải đào ngay để xác định tình trạng và báo cáo kịp thời với bộ phận trực của Công ty để xử lý kịp thời. Đối với tuyến D>100, khi có sự cố, Công ty yêu cầu phải xử lý ngay, thực thanh thực chi với sự chỉ đạo trực tiếp của Trưởng/phó phòng kỹ thuật. Tại Công ty luôn có bộ phận trực 24/24h để xử lý các sự cố trên mạng. Việc xác định khối lượng và vật tư tiêu hao khi xử lý các điểm rò rỷ phải có sự xác nhận của tổ quản lý mạng ở phường. Các tổ quản lý đều có nhật ký phản ánh hoạt động của mạng thuộc địa bàn phụ trách.
- Tại Bắc Giang: Công ty có sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở để nhận được sự hỗ trợ kịp thời của tổ dân phố, công an phường và phát huy sự tham gia của nhân dân trong việc quản lý, bảo vệ mạng lưới cấp nước. 80% số vụ sử dụng nước trái phép được phát hiện, xử lý là do người dân tố giác.
2.3Kinh nghiệm về chống thất thoát, thất thu:
- Đầu tư hạ tầng kỹ thuật đồng bộ: mạng lưới cấp nước, thiết bị mạng, đồng hồ
+ Nâng cấp mạng: thực hiện đồng bộ, không chắp vá.
+ Thống nhất chủng loại vật tư, thiết bị mạng: mạng cấp 3 chỉ dùng các loại ống D20-50-63 (rò rỷ thường xảy ra tại các điểm đấu nối, nhờ thống nhất chủng loại vật tư sẽ thuận lợi cho quản lý, thay thế, sửa chữa).
+ Lập sơ đồ mạng đến các hộ dùng nước đáp ứng yêu cầu quản lý, kiểm tra, sửa chữa, thay thế (sơ đồ ghi rõ kích thước, chủng loại vật tư đường ống, thiết bị…)
+ Thay thế kịp thời các loại đồng hồ: Lạng Sơn thay đồng bộ từ 2004, Công ty chi phí nhân công, đồng hồ dân mua; đối với đồng hồ dùng 3-4 năm mà phải thay thế thì Công ty chịu 50%, dân chịu 50% chi phí mua đồng hồ. Đội sửa chữa mạng có 07 người chịu trách nhiệm sửa chữa mạng toàn Công ty, được Công ty giao khoán lắp đặt đồng hồ (khoán cho đội 100.000đ/hộ).
- Đọc đồng hồ: tăng tần suất đọc với hộ tiêu thụ lớn và có nhật ký theo dõi.
+ Tại Bắc Giang việc đọc đồng hồ đối với hộ dùng nước nhiều như Bệnh viện, cơ sở sản xuất… đọc 2 lần/ngày; các cơ quan hành chính sự nghiệp đọc 1 lần/tuần; các hộ dân đọc 2 lần/tháng. Bộ phận thanh tra thưòng xuyên kiểm tra việc đọc chỉ số đồng hồ, đối chiếu với nhật ký đọc đồng hồ tại các tổ để kiểm tra. Tại Lạng Sơn việc đọc đồng hồ cũng được thực hiện với tần xuất 2 lần/tháng.
+ Định mức đọc đồng hồ được xác định trên cơ sở tần xuất đọc chỉ số để quy đổi tương đương với hộ dân.
Nhờ làm tốt công tác quản lý, tỷ lệ thất thoát của Bắc Giang là 20%, của Lạng Sơn là 28%; các Công ty đều làm ăn có lãi; đời sống, việc làm của CBCNV được đảm bảo.
Chuyến nghiên cứu đã đạt được kết quả mong muốn, việc chia sẻ kinh nghiệm là rất cần thiết để Công ty lựa chọn những mô hình tổ chức phù hợp, những kinh nghiệm thực tiến tốt áp dụng nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của đơn vị. Tuy nhiên, thời gian của chuyến đi ngắn lên các thành viên trong đoàn chưa đủ thời gian cần thiết tìm hiểu sâu tại cơ sở.
Nơi nhận:
- Chủ tịch, Giám đốc, Phó Giám đốc;
- K.Soát viên;
- Các Trưởng phòng và tương đương;
- Lưu VT.
CHỦ TỊCH KIÊM TRƯỞNG ĐOÀN
(Đã ký)
Đinh Ngọc Vân